GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM LÀ GÌ?

Học trải nghiệm, hiểu một cách đơn giản, là quy trình ‘học thông qua thực nghiệm’. Nói một cách cụ thể hơn, quy trình này bắt đầu với việc thực hành, thực nghiệm và sau đó người học phân tích, suy ngẫm về sự trải nghiệm và kết quả của sự trải nghiệm đó. Quy trình này giúp học sinhcủng cố kiến thức, hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng, hành xử mới và thậm chí là cách tư duy mới. Cách tiếp cận trên được xem là có nhiều điểm ưu việt so với phương pháp giáo dục truyền thống (chủ yếu tập trung vào việc cung cấp kiến thức/thông tin và truyền tải thông tin qua các bài giảng). Học thông qua thực hành là quá trình học sinh học từ kinh nghiệm của chính mình thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với học liệu, vật chất, đối tượng khác với việc học thông qua đọc một cuốn sách tức là thông qua kinh nghiệm của người khác được đúc kết lại bằng văn bản.

 

THỰC NGHIỆM – TRẢI NGHIỆM – SUY NGẪM & PHÂN TÍCH – KHÁI NIỆM HOÁ (TRI THỨC)

Nguồn: Todd Fitch and Janet Watson, Experiential Learning, University of California Berkeley, 2014.

Ưu thế của giáo dục trải nghiệm trong phát triển tư duy đã được nhiều nhà khoa học chứng minh. Herman Ebbinghaus – nhà vật lý học người Đức, người đi tiên phong trong nghiên cứu thực nghiệm và trí nhớ đã chỉ ra rằng nếu tỷ lệ tiếp thu của bạn (từ một bài giảng) là 100% vào ngày thứ nhất thì tới ngày thứ hai, con số ấy sẽ giảm đi đáng kể từ 50-80% và cứ thế đến khi chỉ còn 2-3% vào ngày cuối cùng của tháng. Tương tự như vậy, theo William Glasser, chúng ta chỉ học được 10% từ việc đọc, 20% từ việc nghe (từ người khác). Trong khi đó, ông cho rằng 80% kiến thức chúng ta tiếp thu được là thông qua việc trải nghiệm thực tế.

Không chỉ có tầm quan trọng đối với việc phát triển trí nhớ, GDTN còn được chứng minh là giúp cho con người phát triển toàn diện: phát triển kỹ năng quan sát, kỹ năng nhận thức và tư duy, kỹ năng ứng xử, kỹ năng cảm nhận, biểu đạt tình cảm (Toddthe Fitch and Janet Watson 2014). Học thông qua trải nghiệm cũng được đánh giá là giúp phát triển các năng lực của thế kỷ 21: 4 C (Critial thinking – Communication – Collaboration – Creativity/ Tư duy phản biện – Giao tiếp – Hợp tác – Sáng tạo).

Thực tế thì những điều này cũng không có gì là mới. Thực nghiệm là nền tảng của khoa học phương Tây. Nhiều triết gia, nhà khoa học đã có những phát biểu về vai trò của trải nghiệm. Ví dụ, Aristotle (384-322 TCN) đã nói: “For things we have to learn before we can do, we learn by doing” (Với những gì chúng ta cần phải học trước khi làm, chúng ta sẽ học thông qua hành). Còn  Albert Einstein (1879-1955) thì cho rằng nguồn tri thức duy nhất đến từ trải nghiệm (“The only source of knowledge is experience”). Tuy nhiên nếu như ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, hoạt động trải nghiệm được thiết kế một cách công phu khi tích hợp  trong chương trình phổ thông thì dường như đây vẫn còn là vấn đề tương đối xa vời đối với hệ thống giáo dục Việt Nam.

Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục trải nghiệm (GDTN), Bộ Giáo dục và Đào tạo đang có kế hoạch tích hợp hoạt động trải nghiệm vào các chương trình giáo dục chính thống (Xem Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ giáo dục, 28/12/2018). Một số trường tư thục thậm chí đã bắt đầu áp dụng mô hình này trong thực tế. Song song với đó, các dịch vụ giáo dục trải nghiệm (được cung cấp bởi các cơ sở ngoài trường học như viện nghiên cứu, bảo tàng, trang trại giáo dục, công ty tổ chức sự kiện) cũng ngày càng phong phú. Tuy nhiên, theo quan sát và đánh giá của chúng tôi, những mô hình giáo dục trải nghiệm hiện tại vẫn còn nhiều điểm hạn chế, chẳng hạn như:

  • Nhiều chương trình GDTN còn mang nặng tính hình thức và có tần suất rất thấp (1-2 buổi/học kỳ). Một buổi trải nghiệm được tổ chức đồng thời cho 100-200 học sinh, thậm chí nhiều hơn, ở các cấp học khác nhau (nghĩa là có mức độ nhận thức khác nhau) nơi mà học sinh đến chủ yếu để nghe (thậm chí nhiều em còn không nghe rõ) giới thiệu về một chủ đề gì đó thì khó có thể gọi là Tương tự như vậy, một mô hình khá phổ biến hiện nay là đưa học sinh đến các trang trại giáo dục nơi mà các em chủ yếu được làm những việc kiểu như sờ vào cây, bới khoai (đã được vùi một cách có chủ đích trước đó) trong một đống cát/đất trên nền bê tông, cưỡi ngựa trong vài phút. Cách làm này giống với một buổi dã ngoại đơn thuần hơn là một buổi học trải nghiệm.
  • Một số chương trình làm tốt hơn (áp dụng theo mô hình STEM/STEAM) nhưng chỉ tập trung vào lĩnh vực khoa học tự nhiên chứ chưa có các chương trình học trải nghiệm hay về khoa học xã hội, khoa học sự số Bên cạnh đó, các chương trình này thường dựa trên những thí nghiệm “vui” gây cho học sinh sự tò mò sau đó giải thích hiện tượng bằng cách cung cấp kiến thức thay vì hướng dẫn học sinh theo quy trình khoa học. Do vậy các chương trình này chưa thực sự được thiết kế để xây dựng và phát triển năng lực tư duy (ví dụ như thông quan việc hình thành khả năng đặt câu hỏi, khả năng quan sát, so sánh, suy luận và phân tích) và các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, lãnh đạo, thuyết trình, v.v.

Ngoài ra, đa phần các chương trình GDTN được xây dựng một cách rời rạc, thiếu tính liên tục, tổng thể và hệ thống.

Chương trình GDTN của HILL được xây dựng dựa trên sự tham khảo các phương pháp và mô hình giáo dục trải nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Úc, Pháp, Nhật Bản, mô hình năng lực của Tổ chức và Phát triển Kinh tế Thé giới (OECD Learning Compass 2030) và khung các lỹ năng Thế kỷ 21 thuộc chương trình P21 (Parnership for 21st Century Skills).

Mục tiêu giáo dục chính mà HILL hướng tới là sự phát triển toàn diện của trẻ và đặt biệt chú trọng phát triển năng lực tư duy phản biện và sáng tạo cho trẻ thong qua học thực nghiệm các nội dung khoa học tự nhiên và trải nghiệm văn hoá – xã hội đồng thời lồng ghép các kỹ năng sống và làm việc.

Bồi đắp KIẾN THỨC NỀN TẢNG

  • Kiến thức khoa học tự nhiên (sự sống, trái đất, không gian, vật lý & công nghệ)
  • Tri thức văn hoá – xã hội
  • Kiến thức tài chính
  • Ý thức Công dân

Phát triển NĂNG LỤC TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ SÁNG TẠO

  • Thách thức tư duy lối mòn
  • Quan sát, đặt câu hỏi, ghi chép và thu thập thông tin
  • So sánh, phân loại, xử lý và tổng hợp thông tin,
  • Phân tích và suy luận,
  • Khả năng khái quát hóa vấn đề và ra quyết định,
  • Đề cao chính kiến cá nhân,
  • Khuyến khích trí tưởng tượng, góc nhìn và ý tưởng mới.

Rèn luyện KỸ NĂNG SỐNG VÀ LÀM VIỆC

  • Khả năng thích nghi và hoà nhập
  • Tính tự chủ
  • Khả năng giao tiếp và hợp tác
  • Kỹ năng lãnh đạo và ý thức trách nhiệm